Mức phạt chậm nộp BCTH sử dụng hoá đơn là bao nhiêu, làm thế nào để không bị phạt chậm nộp Báo cáo tình hình

Quá ngày nộp mà giám đốc chưa về, công ty em bị nộp chậm BCTH sử dụng hoá đơn quí.Mang BCTH sử dụng hoá đơn lên chi cục thuế nộp, họ không nhân.

Mức phạt chậm nộp của công ty em là 6.000.000đ có đúng không ạh?

Các anh chị trả lời giúp em với.

Vợ giám đốc thì đổ hết tội lên đầu kế toán, vì không chịu làm BCTH sử dụng hoá đơn sớm.

Lương chẳng được bao nhiêu, phạt như thế này thì nặng quá.
 
 
Chào bạn,
 
Mức phạt như trên là phù hợp với quy định hiện tại của pháp luật bởi vì:
 
Theo điểm b khoản 3 điều 33 của NĐ 51/2010/NĐCP thì mức phạt đối với hành vi không nộp báo cáo hóa đơn đã sử dụng theo quy định sẽ bị phạt từ 2tr. đồng đến 10tr. đồng. Vì vậy mức phạt khi không có yếu tố tăng nặng hoặc giảm nhẹ là bình quân của mức cao nhất và thấp nhất tức 6tr. đồng.
 
Về vấn đề giám đốc đi vắng thì để giải quyết bạn có thể báo cáo cho giám đốc bằng điện thoại sau đó đề nghị hướng giải quyết là giám đốc ủy quyền cho một ai đó ký báo cáo này (có thể là phó giám đốc hoặc một ai đó trong công ty). Thủ tục ủy quyền sẽ được lập sau đó để hợp thức hóa việc ký này.Theo đúng quy định 20/8 mới hết hạn nộp BCTHSD HĐ Quý 2.
 
Điều 25. Báo cáo tình hình sử dụng hoá đơn
 
Hàng quý, tổ chức, hộ, cá nhân bán hàng hoá, dịch vụ (trừ đối tượng được cơ quan thuế cấp hóa đơn) có trách nhiệm nộp báo cáo tình hình sử dụng hoá đơn cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn được gửi cùng Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng của tháng đầu tiên của quý tiếp theo (mẫu số 3.9 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này).
 
Tháng đầu tiên của quý tiếp theo là tháng 7.
Hạn nộp hồ sơ khai thuế của tháng 7 là 20/8
Suy ra, hạn nộp báo cáo THSD HĐ Quý 2 phải là 20/8.
 
 
Căn cứ theo mục 1- phần V - TT 61/2007/TT-BTC hướng dẫn thi hành 1 số điều Luật Quản Lý Thuế số 78/2006/QH 11 ns :


V. Các hình thức xử phạt, mức phạt; các biện pháp khắc phục hậu quả


b)  Phạt tiền: Hình thức phạt tiền được quy định cụ thể đối với từng hành vi vi phạm pháp luật về thuế như sau:

- Phạt theo số tiền tuyệt đối đối với các hành vi vi phạm thủ tục thuế, mức phạt tối đa không quá 100 triệu đồng. Khi phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm thủ tục thuế là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống, nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt, nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt.


Mức trung bình của khung tiền phạt được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tiền phạt tối thiểu cộng với mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt.


Như vậy, 2tr + 10tr = 12tr/2 = 6tr !


Nếu các bác nhà ta chứng minh được sai phạm của mình thuộc 1 trong 7 tình tiết giảm nhẹ theo quy định của mục 2 - phần III - TT 61/2007/TT-BTC như sau thì được CQ Thuế xem xét...:


2. Tình tiết giảm nhẹ                                             


Những tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ:


2.1. Người vi phạm đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của hành vi vi phạm hoặc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại, đã tự kê khai điều chỉnh những sai sót về hồ sơ đăng ký thuế, hồ sơ khai thuế; đã nộp vào Ngân sách Nhà nước số thuế kê khai thiếu, số thuế đã hoàn, số thuế miễn, giảm không đúng so với thực tế phát sinh.


2.2. Người vi phạm đã tự nguyện khai báo, thành thật nhận sai sót và kê khai, điều chỉnh các lỗi sai sót.


2.3. Người vi phạm do bị ép buộc hoặc bị lệ thuộc về vật chất hoặc tinh thần.


2.4. Người vi phạm là phụ nữ có thai, người già yếu, người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, người có bệnh hoặc tàn tật làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình. Để có căn cứ xác nhận tình tiết giảm nhẹ, người vi phạm phải có giấy xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền; đối với người chưa thành niên thì phải có giấy khai sinh hoặc giấy tờ hợp pháp chứng minh; người già yếu đối với nữ là từ đủ 55 tuổi trở lên, đối với nam từ đủ 60 tuổi trở lên.


2.5. Vi phạm trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra.


2.6. Vi phạm do chưa nắm được chính sách pháp luật về thuế trong các trường hợp: Người vi phạm có trình độ lạc hậu; người sống ở vùng nông thôn, xa xôi, hẻo lánh, có điều kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn nên chưa nhận thức đầy đủ các quy định mới của pháp luật về thuế. 


2.7. Vi phạm trong tình trạng bị kích động về tinh thần do hành động trái pháp luật của người khác gây ra.

 

Mới nhất