Khi doanh nghiệp bị phá sản thì những người lao động trong doanh nghiệp sẽ phải chịu hậu quả trực tiếp, họ sẽ bị mất việc làm, mất nguồn thu nhập để đảm bảo đời sống. Sự bảo vệ của Luật Phá sản đối với người làm công thể hiện ở chỗ pháp luật cho phép người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp hoặc phản đối yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, quyền được tham gia quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, quyền được ưu tiên thanh toán nợ lương trước các khoản nợ khác của doanh nghiệp, ….

liên hệ luật sư.

lienhe

Pháp luật tạo điều kiện để cho con nợ khắc phục khó khăn để khôi phục sản xuất kinh doanh. Chỉ khi nào không thể cứu vãn nổi mới tuyên bố phá sản. Đồng thời, khi bị tuyên bố phá sản, người kinh doanh được giải thoát khỏi các khoản nợ khi đã giao lại toàn bộ tài sản còn lại để chi trả cho các chủ nợ. Sau đó một thời gian họ có thể trở lại môi trường kinh doanh khi có cơ hội.

liên hệ luật sư.

lienhe

Bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ trước tiên là bảo vệ các quyền về tài sản của các chủ nợ. Khi doanh nghiệp mắc nợ không trả được nợ cho các chủ nợ thì chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp để bán toàn bộ tài sản còn lại của doanh nghiệp để trả cho các chủ nợ.

Luật Phá sản còn bảo đảm sự bình đẳng của các chủ nợ trong việc đòi nợ. Không một con nợ nào được quyền đòi nợ một cách riêng lẻ. Không một chủ nợ nào được con nợ trả nợ cho mình trong khi các chủ nợ khác chưa được trả nợ. Tất cả các chủ nợ đều phải đợi đến khi Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp và cùng nhau chia số tài sản còn lại của doanh nghiệp theo những tỷ lệ (trừ những chủ nợ có một sự đảm bảo đặc biệt cho món nợ của mình như có tài sản cầm cố, thế chấp).

liên hệ luật sư.

lienhe

a. Bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ:

Bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ trước tiên là bảo vệ các quyền về tài sản của các chủ nợ. Khi doanh nghiệp mắc nợ không trả được nợ cho các chủ nợ thì chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp để bán toàn bộ tài sản còn lại của doanh nghiệp để trả cho các chủ nợ.

Xem thêm: Vai trò của pháp luật phá sản

Giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị, thành viên hội đồng quản trị trong doanh nghiệp bị phá sản bị hạn chế quyền tự do kinh doanh (cấm kinh doanh trong một thời hạn nhất định). Còn trong trường hợp doanh nghiệp giải thể thì chủ doanh nghiệp và những người quản lý, điều hành không bị hạn chế quyền đó.

lienhe

Khi giải thể, chủ doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp trực tiếp thanh toán tài sản, giải quyết mối quan hệ nợ nần với các chủ nợ còn khi phá sản, việc thanh toán tài sản, phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp được thực hiện thông qua một cơ quan trung gian là tổ thanh toán tài sản sau khi có quyết định tuyên bố phá sản.

lienhe

Nếu giải thể do chính chủ cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện hoặc cơ quan quản lý Nhà nước ra quyết định thì phá sản do cơ quan duy nhất có quyền quyết định đó là Tòa án - cơ quan tài phán Nhà nước thực hiện.

lienhe

Nếu như giải thể có nhiều lý do như người kinh doanh không muốn tiếp tục kinh doanh hoặc hết thời hạn kinh doanh hoặc đã hoàn thành được mục tiêu đã định hoặc không thể tiếp tục kinh doanh vì làm ăn thua lỗ thì phá sản chỉ có một lý do duy nhất đó là mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.

lienhe

Nếu nhìn vào hiện tượng thì giữa phá sản và giải thể có nhiều điểm trùng hợp như:

  • Chấm dứt sự tồn tại của một doanh nghiệp,
  • Diễn ra quá trình phân chia tài sản còn lại của doanh nghiệp,
  • Giải quyết quyền lợi cho người làm công...

Tuy nhiên, về bản chất thì nó là hai hiện tượng khác nhau:

Xem thêm: Phân biệt phá sản và giải thể

Phá sản doanh nghiệp là hiện tượng một doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh thương mại thực hiện hành vi thương mại, nhưng vì một lý do nào đó (quản lý kém, bị thiên tai, hỏa hoạn...) nên không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn.

Cần lưu ý là doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và doanh nghiệp bị phá sản có nhiều điểm khác nhau, cụ thể là:

Xem thêm: Khái niệm về phá sản

Hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài theo quy định tại Điều 69 của Luật này, bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài.

Đối với phán quyết của Trọng tài vụ việc, bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài sau khi phán quyết được đăng ký theo quy định tại Điều 62 của Luật này.

lienhe