Dân sự Hình sự Tội cố ý gây thương tích
Để tư vấn luật gọi ngay 1900 6279 Chúng tôi sẽ giải đáp thắc mắc của bạn.

Tội cố ý gây thương tích

Câu hỏi:

Xin chào luật sư,

Tôi muốn hỏi tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bị phạt án như thế nào? Nếu bị đơn đã đền bù dân sự: trả lại tài sản cho nguyên đơn, bên nguyên đơn chấp nhận rút đơn tố cáo, k có yêu cầu bồi  thường gì thêm. Vậy khi có bản kết luận của công an, và đã đưa lên Viện kiểm sát thì hình thức án phạt của bị đơn sẽ là như thế nào ạ?
Mong sớm nhận được trả lời của luật sư.
Tôi xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:
Chào bạn,

Căn cứ điều 140 BLHS 1999 có quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì:

Điều 140.  Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Trường hợp của bạn vừa nêu cũng không thuộc trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại quy định tại điều 105 BLTTHS 2003 do vậy khi người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trả lại tài sản đó, người bị hại rút đơn tố cáo hay làm đơn bãi nại cũng không thể miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó. Việc trả lại tài sản chiếm đoạt và được người bị hại làm đơn bãi nại được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: