Luật đất đai

khi ông bà cháu đang sống có sang tên làm bìa đỏ mang tên bố cháu (nhà ông cháu chỉ có bố cháu và cô cháu) và đến khi ông bà cháu qua đơì cô cháu đòi chia đôi bìa đỏ như thế có đúng không à

Trả lời: Chào bạn.
Theo như thông tin bạn cung cấp thì khi còn sống ông bà bạn đã tặng cho ( hoặc chuyển nhượng) cho bố bạn quyền sử dụng đất. Và hiện nay thì bố bạn đã đứng tên quyền sử dụng đât nói trên. Vì vậy, trường hợp này, bố bạn đã được đứng tên quyền sử dụng đất hợp pháp và cô bạn không có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất nói trên.
Thân chào!

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với chúng tôi để được luật sư hướng dẫn chi tiết.

Click:: Liên hệ tư vấn tại Hà Nội , khu vực Miền Bắc

Click:: Liên hệ tư vấn tại TP Hồ Chí Minh, khu vực miền nam

 Liên hệ luật sư

Tôi sử dụng thửa đất và được cấp GCN QSD đất năm 1999, nay có việc liên quan nên tôi đề nghị Phòng TNMT huyện cung cấp cho tôi bản sao Hồ sơ xét duyệt, đề nghị cấp GCN QSD đất (Hồ sơ cấp sổ đỏ) có được không? Tôi đề nghị UBND xã cung cấp thông tin về sổ mục kê, bản đồ địa chính qua các thời kỳ mà Nhà nước lập có được không?
Tôi phải làm thủ tục như thế nào?
Xin cảm ơn!

Trả lời: Bạn phải có giấy tờ chứng minh (hộ khẩu hoặc xác nhận của địa phương trên đơn xin trích lục) bạn hiện là người có liên quan đến phần đất, căn nhà mà bạn có nhu cầu trích lục.
Bạn cũng phải nắm rõ địa chỉ cũ, trước đây của phần nhà đất này để cung cấp cho cơ quan thông tin tài nguyên & môi trường thành phố.
Khi đi đem theo CMND.

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi để luật sư tư vấn và hướng dẫn chi tiết

Click:: Liên hệ tư vấn tại Hà Nội , khu vực Miền Bắc

Click:: Liên hệ tư vấn tại TP Hồ Chí Minh, khu vực miền nam

Liên hệ luật sư

Tôi có mãnh đất được anh chị họ ủy quyền cho canh tác sử dụng từ năm 1976 và tôi đã cất nhà trên đất.
Đến năm 1983 hai v/c anh chị lập giấy ủy quyền cho v/c tôi bằng giấy tay.
Năm 1988 nhà cũ xuống cấp nên tôi làm Đơn xin sửa lại nhà cũ và cất thêm 2 căn nữa thay cho những chái cũ và UBND xã đã đóng dấu chấp thuận.
Năm 1989 gia đình ông X khó khăn về nhà ở nên đến xin ở nhờ trong một căn thuộc số nhà của tôi. Sau vài năm thấy gia đình ông có điều kiện kinh tế nhưng lại không tìm chỗ ở khác nên v/c tôi có yêu cầu ông trả lại nhà nhưng ông cứ khất lần.
Tôi có làm đơn gửi lên xã để yêu cầu ông trả lại nhà nhưng ông đã lén lút móc nối với xã nên xã vẫn làm ngơ.
Tôi gửi đơn lên Huyện thì Huyện yêu cầu về xã giải quyết trước.

Ba căn nhà tôi xin sửa năm 1988 thì tôi ở 1 căn nay đã có sổ hồng, 1 căn tôi đã bán giấy tay cho người khác, còn 1 căn tôi cho ông X ở nhờ vẫn chưa lấy lại được.
Vì điều kiện kinh tế nên tôi chưa thể Hợp thức hóa được lô đất.

Tôi có các giấy tờ sau:
Hộ khẩu thường trú tại chỗ từ năm 1977.
Giấy tờ mua đất của v/c anh chị tôi.
Giấy ủy quyền của v/c anh chị cho v/c tôi (Bản chính giấy tay)
Đơn xin sửa nhà được UBND xác nhận (Bản chính)
Tờ đăng ký nhà đất năm 1999.

Ông X có các giấy tờ:
Hộ khẩu thường trú từ năm 1994
Tờ đăng ký nhà đất năm 1999.
Bản vẽ nhà và đất ông chiếm thêm.
Giấy tờ đóng thuế căn nhà đang ở nhờ.

Vậy xin hỏi luật sư:
- Tôi có thể đòi lại nhà đã cho ông X ở nhờ không?
- Có phải ông X có thời gian ở lâu trong căn nhà đó hơn tôi nên ông X sẽ lợi thế hơn?

Trả lời: Bạn vẫn có thể kiện đòi lại nhà được nhưng do nhà và đất chưa được cấp chủ quyền nên bạn sẽ gặp nhiều khó khăn . Theo kinh nghiệm của tôi thì những vụ kiện này Tòa muốn xử sao cũng được nên tốt nhất bạn nên nhờ luật sư trong vụ kiện này .
Trước mắt bạn nên làm đơn gởi Xã hòa giải trước sau đó nộp đơn kiện tranh chấp tài sản trên đất ở Tòa án huyện . Bản án của Tòa án sẽ là căn cứ pháp lý để cấp chủ quyền nhà đất cho người thắng kiện .

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với chúng tôi để được luật sư hướng dẫn chi tiết.

Click:: Liên hệ tư vấn tại Hà Nội , khu vực Miền Bắc

Click:: Liên hệ tư vấn tại TP Hồ Chí Minh, khu vực miền nam

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với chúng tôi để được luật sư hướng dẫn chi tiết.

Click:: Liên hệ tư vấn tại Hà Nội , khu vực Miền Bắc

Click:: Liên hệ tư vấn tại TP Hồ Chí Minh, khu vực miền nam

 Liên hệ luật sư

Năm 2000, tôi có giao dịch nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp - hợp đồng chuyển nhượng đã được Ủy ban Nhân dân cấp xã ký xác nhận đủ điều kiện chuyển nhượng nhưng chưa được UBND huyện xác nhận được chuyển nhượng, do nhiều lý do (chủ quan, khách quan) mà người chuyển nhượng chưa thực hiện làm thủ tục tách thửa sang tên cho tôi.

Sau nhiều lần tự thỏa thuận không thành, hai bên có thực hiện hòa giải tại UBND xã (có BB làm việc ngày 14/12/2009) và người chuyển nhượng đồng ý thực hiện thủ tục tách thửa sang tên cho tôi- thời hạn cuối là tháng 02 năm 2010, tuy nhiên đến nay (12/2010) vẫn chưa thực hiện.

Trong trường hợp này xin tư vấn:

1- Hợp đồng như nêu trên có hợp lệ theo quy định pháp luật hiện hành không?
2- Nếu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện còn hiệu lực không ? Có được tính lại thời hiệu khởi kiện theo BB hòa giải không?

Mong sớm nhận được ý kiến.

 

 

trả lời: Theo tôi, sự việc là chuchu_tu nhận chuyển nhượng đất từ năm 2000. Hai bên thỏa thuận bên chuyển nhượng thực hiện thủ tục tách thửa nhưng mãi cho đến nay vẫn không chịu thực hiện nên chuchu_tu không thực hiện được QSD đối với thửa đất đã nhận chuyển nhượng.

Bạn ấy đã làm đơn ra UBND xã thì trong quá trình hòa giải, bên chuyển nhượng đồng ý thực hiện việc tách thửa, nhưng sau khi hòa giải vẫn không chịu thực hiện. Chứ không phải là UBND huyện không chịu thực hiện chức năng của mình.

Vì vậy, ý bạn ấy muốn hỏi là có thể khởi kiện để yêu cầu Tòa án buộc bên chuyện nhượng phải thực hiện việc tách thửa cho mình hay không.

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với chúng tôi để được luật sư hướng dẫn chi tiết.

Click:: Liên hệ tư vấn tại Hà Nội , khu vực Miền Bắc

Click:: Liên hệ tư vấn tại TP Hồ Chí Minh, khu vực miền nam

 Liên hệ luật sư

Thứ nhất: nhà em có một tường riêng, tường riêng nhà em nối liền với tường rào của sân nhà em (tổng chiều dài là 10.6m - được công nhận trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở) Nhà bên cạnh cũng có tường riêng, có sân nhưng chỉ xây tường rào phía trước, phía bên hông thì mượn tường rào nhà em (đoạn tường mượn dài khoảng 1m), một phần cột đỡ bancông nhà họ chồng lên góc đầu tường rào nhà em 5cm. Giữa 2 tường không có khe hở. Nay nhà em tháo dỡ để xây mới thì nhà bên cạnh lại yêu cầu nhà em phải đền bức tường (dài 10,6m) vì nói rằng đó là tường nhà họ. UBND phường đã kiểm tra và cũng khẳng định bức tường đó là của nhà em. Sau 4 lần hòa giải, nhà bên cạnh vẫn không đồng ý kết luận của phường, cứ khăng khăng cho rằng đó là tường nhà họ nhưng họ lại không đưa ra được giấy tờ gì chứng minh đó là tường nhà họ ngoại trừ giấy mua bán tay có ghi tường chung (xin nói thêm là sau khi mua thì họ sửa chữa, xây thêm gác suốt). Phường có hướng dẫn nếu không hòa giải được thì họ có quyền khiếu kiện lên trên nhưng họ lại không khiếu kiện mà dùng mọi hình thức từ chửi bới, đe dọa, hành hung thợ và gia đình nhà em vì thế mà em không thể xây dựng được, cứ mỗi lần nhà em chuẩn bị xây thì họ lại ngăn cản với lý do đập tường nhà họ mà chưa giải quyết, em đã phải ngừng công trình hơn 2 tháng nay. Nhờ chính quyền can thiệp thì UBND phường cho rằng hành vi ngăn cản đó là gây rối do công an giải quyết, công an phường thì lại bảo đây là tranh chấp nhà đất phải do UBND phường giải quyết.
Rất mong luật sư tư vấn giúp em: em phải nhờ cơ quan nào can thiệp giải quyết giúp em? UBND quận hay Tòa án nhân dân quận? (xin nói thêm là nhà em có đầy đủ giấy tờ chứng minh đó là tường riêng của nhà em)
Thứ hai: Khi xây nhà thì cũng hộ trên đã lợp mái tôn, gắn lam cửa số lấn sang không gian nhà em khoảng 15cm nhưng nhà em không bắt họ làm cam kết sẽ tháo dỡ khi nhà em xây. Nay nhà em xây họ nhất định không chịu tháo dỡ phần đó. Điều đó đúng hay sai, nếu họ phải tháo dỡ thì cơ quan nào có thẩm quyền ra quyết định buộc họ phải tháo dỡ?
Thời gian tòa án nhân dân quận thụ lý và giải quyết 1 vụ tranh chấp nhà đất tối đa là bao lâu?
Rất mong quý luật sư sớm xem và tư vấn giúp em.
Trân trọng cám ơn.

trả lời: Trong trường hợp này bạn có thể khởi kiện ra tòa cấp huyện để giải quyết tranh chấp: - Tường rào;- Phần không gian nhà kế bên lấn sang nhà bạn;sau khi có bản án có hiệu lực Pháp luật, khi đó bạn tiến hành XD, nếu ai cản trở thì khi đó yêu cầu công an can thiệp.Chúc bạn thành công

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với chúng tôi để được luật sư hướng dẫn chi tiết.

Click:: Liên hệ tư vấn tại Hà Nội , khu vực Miền Bắc

Click:: Liên hệ tư vấn tại TP Hồ Chí Minh, khu vực miền nam

 Liên hệ luật sư

Tôi mua 1 miếng đất của ông A, miếng đất này trước đó ông A mua của ông T. Sau khi ông A nhận tiền cọc của tôi ông A không chịu làm hợp đồng mua bán đất nên tôi khởi kiện ông A ra Tòa yêu cầu ông A thực hiện hợp đồng, tại Tòa tôi và ông A thỏa thuận được với nhau nên Tòa ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, theo đó ông A đồng ý làm hợp đồng chuyển nhượng đất cho tôi. Tôi và ông A đã đến phòng công chứng để ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồng thời tôi dã trả hết tiền cho ông A. Trong khi tôi đang tiến hành làm thủ tục sang tên thì cơ quan nhà nước phát hiện ông T làm giả hồ sơ để được cấp sổ đỏ miếng đất này (sau đó ông T sang nhượng cho ông A tiếp theo ông A sang nhượng cho tôi), ông T bị xử 4 năm tù về tôi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nhà nước ra quyết định thu hồi Giấy CNQSDĐ đã cấp cho miếng đất này. Do đất đã bị thu hồi nên tôi yêu cầu ông A trả lại tiền cho tôi nhưng ông A không chịu trả, vì vậy tôi kiện ông A ta Tòa để đòi lại tiền thì Tòa án trả đơn với lý do vụ việc đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án (QĐ công nhận sự thỏa thuận của các đương sự). Xin hỏi Tòa làm như vậy có đúng không? Theo tôi hiểu thì trước đây tôi kiện ông A vì ông A không thực hiện việc chuyển nhượng đất theo thỏa thuận khi tôi đặt cọc, còn nay tôi kiện là yêu cầu ông trả lại tiền do đất bị nhà nước thu hồi không làm thủ tục sang tên được. Vậy sao Tòa lại nói là vụ kiện đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của Tòa án, thưa Luật sư? Xin Luật sư cho biết tôi phải làm sao bây giờ ạ?

Trả lời: Chào bạn

Cám ơn bạn đã tin tưởng vào luật sư

Vấn đề bạn hỏi xin trả lời như sau:
Tòa án trả lời như vậy là đúng luật vì vụ việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật (Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự). Tuy nhiên bạn có thể làm đơn trình bày với tòa án như sau:
1. Trước đây bạn kiện ông A không thực hiện việc chuyển nhượng đất theo thỏa thuận - khi đó tòa án giải quyết, công nhận sự thỏa thuận của 2 bên giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu tài sản (xác nhận giao dich hợp pháp)
2. Nay bạn kiện ông A trả lại tiền do đất bị nhà nước thu hồi không làm thủ tục sang tên được - trường hợp này gọi là tranh châp về hợp đồng dân sự.

Nếu tòa án vẫn không thụ lý, bạn yêu cầu phải giải thích rõ và hướng dẫn để đòi lại tiền.
Trường hợp ông A cố tình không trả, bạn có thể tố cáo ông A tới cơ quan công an về tội chiếm giữ trái phép tài sản.

Do đây chỉ là thông tin bạn đưa ra nên chúng tôi không có cơ sở để khẳng định chính xác
Chúc bạn may mắn

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với chúng tôi để được luật sư hướng dẫn chi tiết.

Click:: Liên hệ tư vấn tại Hà Nội , khu vực Miền Bắc

Click:: Liên hệ tư vấn tại TP Hồ Chí Minh, khu vực miền nam

 Liên hệ luật sư

Tôi có thửa đất được chia thành hai lô.Năm 1999,Tôi bán một lô có giấy bán viết tay và vẽ sơ đồ ranh giới.Năm 2002 tôi làm nhà phần đất còn lại.Vì tôi chưa có bìa đỏ nên quản lý đô thị có xữ phạt vì xây dựng trái phép.Từ đó đến nay tôi ở,không tranh chấp với ai và có đóng thuế nhà đất đầy đủ.Năm 2004 người mua ấy làm bìa đỏ(có cán bộ địa chính xuống đo và được cấp trong năm đó)Tôi không rõ là họ đo vẽ đến đâu.Người mua đất đến nay vẫn chưa làm nhà.Nay tôi làm bìa đỏ thì người mua ấy phải ký giới cận nhưng họ có lời ghi rằng:Tôi đã làm nhà chồng lên phần đất của ông ấy(Hiện nay phần đất ông ấy vẫn còn đủ nguyên).Vì vậy phần đất của tôi không thể cấp bìa đỏ được vì đang tranh chấp.Tôi khiếu nại ra phường rồi Kiện ra Tòa.Tòa bác đơn và hướng dẫn tôi gởi ra UB vì tòa cho rằng tôi chưa có bìa đỏ nên không thuộc quyền của tòa.Tôi gởi đơn xin giải quyết tranh chấp ra UB thành phố.Phòng TNMT thụ lí đơn và có thư trả lời là theo luật đất đai thì việc này thuộc quyền của Tòa án.Xin cho biết tôi phải làm thế nào bây giờ?Nếu kiện ra tòa thì nên kiện theo nôi dung gì.Rất mong tận tình giúp đở

Trả lời: Bạn có thể tham khảo các thời hiệu về: điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử, trả hồ sơ điều tra bổ xung ... tại bộ luật tố tụng hình sự và các VB hướng dẫn thi hành.
Nếu phát hiện thời hạn bị sai ở giai doạn nào thì bạn có thể kiến nghị:
1. Nếu Cơ quan điều tra hoặc toà án sai thời hạn: gửi khiếu nại đến VKS cùng cấp.
2. Nếu VKS sai về thời hạn thì gửi kiến nghị đến VKS cấp trên trực tiếp.

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với chúng tôi để được luật sư hướng dẫn chi tiết.

Click:: Liên hệ tư vấn tại Hà Nội , khu vực Miền Bắc

Click:: Liên hệ tư vấn tại TP Hồ Chí Minh, khu vực miền nam

 Liên hệ luật sư

Ông nội tôi được chế độ cũ cấp bằng khóan năm 1934. Vào năm 1954 ông nội có cho hai hộ ở nhờ. Năm 1986 họ cất nhà kiên cố gia đình ngăn cản và họ làm cam kết ở đậu. Vào năm 1992 họ sửa nhà nới rộng ra thêm gia đình có khiếu nại được xã hòa giải không thành chuyển lên huyện giải quyết ngày 25/4/2003. nhưng đến nay vẫn chưa xong. nay huyện không chịu giải quyết nói thuộc thẩm quyền tòa án vì có bằng khóan năm 1934 hướng vẫn tôi khiếu nại tại tòa.Qua tòa nói thẩm quyền của UB vì đã thụ lý trước 1/7/2004. Vậy huyện không giải quyết đúng không

 

trả lời: 

Bạn nói năm 1992 người ở đậu nới rộng nhà cửa, gia đình bạn khiếu nại mà mãi tới 25/4/2003, tức 9 năm sau, sự việc mới chuyển lên UBND Huyện ư ?

Trường hợp của bạn, TAND Huyện đã nói đúng, vì UBND Huyện đã nhận đơn ngày 25/4/2003, tức trước ngày Luật đất đai 2003 có hiệu lực là ngày 01/7/2003, như vậy việc của bạn không được áp dụng Luật đất đai 2003 để giải quyết ( qui định tranh chấp đất có một trong các loại giấy về QSDĐ qui định tại điểm e khoản 1 điều 50 Luật đất đai do TAND giải quyết ) mà phải căn cứ vào điểm a khoản 2 Luật đất đai 1993 để giải quyết ( qui định UBND Huyện giải quyết tranh chấp đất đai giữa cá nhân, hộ gia đình với nhau mà đất không có GCNQSDĐ, thời điểm này ngoài GCNQSDĐ ra Luật đất đai không qui định thêm bất cứ giấy tờ gì khác về QSDĐ ). Bạn mang toàn bộ hồ sơ sang nộp lại bên UBND Huyện, nếu họ không nhận thì sử dụng những điều tôi vừa tư vấn để tranh luận, chắc họ phải nhận thôi, còn nếu bạn "ngoại giao" tốt thì xin TAND Huyện 1 quyết định trả lại đơn cho bạn với lý do không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà, bạn xuất trình QĐ này của Toà thì UBND Huyện phải nhận đơn là cái chắc.

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với chúng tôi để được luật sư hướng dẫn chi tiết.

Click:: Liên hệ tư vấn tại Hà Nội , khu vực Miền Bắc

Click:: Liên hệ tư vấn tại TP Hồ Chí Minh, khu vực miền nam

 Liên hệ luật sư

 

Gia đình tôi có mua 1 mảnh đất của thôn từ năm 2000, chỉ có giấy viết tay và chữ ký của trưởng thôn. Hiện gia đình tôi đã xây nhà và ở đó được hơn 3 năm, không có tranh chấp gì. 

Vậy tôi muốn hỏi, tôi có được cấp sổ đỏ không? Thủ tục như thế nào? (Câu hỏi của bạn đọc Lê Thu Hà).

Trả lời:

Theo quy định của Luật Đất đai năm 1993 quy định: Không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong các trường hợp sau:

1. Đất sử dụng không có giấy tờ hợp pháp;

2. Đất giao cho tổ chức mà pháp luật quy định không được phép chuyển nhượng quyền sử dụng;

3.Đất đang có tranh chấp

Theo quy định tại Điều 707 Bộ Luật dân sự 1995 quy định về hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phải được làm thủ tục và đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai.

Căn cứ theo quy định như trên thì Hợp đồng mua bán đất của bạn với thôn là vô hiệu vì thôn chỉ được sử dụng đất chứ không được chuyển nhượng, không có Giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất.

Về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau:

Tại Điều7 nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày19/10/2009Về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định: “Người sử dụng đất được chứng nhận quyền sử dụng đất nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 49 của Luật Đất đai”

Tại Điều 49Luật Đất đai 2003 quy định: Những  trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  như sau:

1. Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, trừ trường hợp thuê đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn;

2. Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

3. Người đang sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 và Điều 51 của Luật này mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

4. Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ; tổ chức sử dụng đất là pháp nhân mới được hình thành do các bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất;

5. Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;

6. Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất;

7. Người sử dụng đất quy định tại các điều 90, 91 và 92 của Luật này;

8. Người mua nhà ở gắn liền với đất ở;

9. Người được Nhà nước thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở.

Quy định tại Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá  nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

5. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ.

7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

...

Về hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Điều 16 nghị định 88/2009/NĐ-CP quy định về hồ sơ và trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu nhà ở, công trình xây dựng:

1. Người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp một (01) bộ hồ sơ gồm có:

a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận;

b) Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai (nếu có);

c) Giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 8 của Nghị định này đối với trường hợp tài sản là nhà ở;

d) Giấy tờ về quyền sở hữu công trình xây dựng theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Nghị định này đối với trường hợp tài sản là công trình xây dựng;

đ) Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật (nếu có);

e) Sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng (trừ trường hợp trong giấy tờ quy định tại các điểm b, c và d khoản này đã có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng).

Như vậy, Hợp đồng mua bán đất của bạn là vô hiệu tuy nhiên bạn sử dụng đất ổn định từ năm 2000 đến nay và không có tranh chấp gì xảy ra thì cần xem xét vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đã được Cơ quan Nhà nước phê duyệt tại khu vực đó có phù hợp không để xem xét về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Nghị định 88/2009/NĐ-CP và Luật Đất đai 2003. Bạn  nên liên hệ UBND nơi có đất để được giải đáp cụ thể về thủ tục.

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với chúng tôi để được luật sư hướng dẫn chi tiết.

Click:: Liên hệ tư vấn tại Hà Nội , khu vực Miền Bắc

Click:: Liên hệ tư vấn tại TP Hồ Chí Minh, khu vực miền nam

 Liên hệ luật sư

Nếu đây là lần đầu cấp sổ đỏ thì cách tính các loại thuế, phí như sau:
Lệ phí trước bạ = (diện tích đất) x (giá đất/m2 ) x 0,5%
(Giá đất do UBND tỉnh Nam định công bố hàng năm)
Lệ phí địa chính: 10.000
Tiền thuế sử dụng đất:
1. Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: Áp dụng đối với diện tích đất ở:

Theo điều 5, 6 và 7 Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp (có hiệu lực từ ngày 1/1/2012), căn cứ tính thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là giá tính thuế và thuế suất. Trong đó:

• Giá tính thuế: bằng diện tích đất tính thuế nhân với giá của 1m2 đất, với diện tích đất tính thuế là diện tích đất thực tế sử dụng; và giá của 1m2 đất là giá đất theo mục đích sử dụng do UBND cấp tỉnh quy định và được ổn định theo chu kỳ năm năm kể từ ngày 1/1/2012.

• Thuế suất đối với đất ở:

Bậc thuế diện tích đất tính thuế (m2) thuế suất (%)

1 Diện tích trong hạn mức 0,03

2 Phần diện tích vượt không quá ba lần hạn mức 0,07

3 Phần diện tích vượt trên ba lần hạn mức 0,15

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với chúng tôi để được luật sư hướng dẫn chi tiết.

Click:: Liên hệ tư vấn tại Hà Nội , khu vực Miền Bắc

Click:: Liên hệ tư vấn tại TP Hồ Chí Minh, khu vực miền nam

 Liên hệ luật sư