Gia đình Tư vấn ly hôn Đơn phương ly hôn và phân chia tài sản sau ly hôn
baner

Đơn phương ly hôn và phân chia tài sản sau ly hôn

Email In

Xin chào mục tư vấn hôn nhân,

Tôi lên mạng và có một vài chia sẻ với chuyên mục mật vấn đề sau:

  • Tôi kết hôn năm 2008 và hiện nay có hai cháu: Cháu gái sinh năm 1999, cháu trai sinh năm 2003. Hiện nay tôi sinh sống tại Quận 12, HCM và làm việc tại Vũng tàu. Vợ tôi sinh năm 1974 và ở nhà nội trợ và làm may tại nhà;
  • Tình trạng của tôi hiện nay : Vợ tôi không tôn trọng tôi và gia đình nhà chồng (có những lời nói xúc phạm tôi và gia đình nhà chồng, có lòng hận thù với tôi cũng như gia đình nhà tôi…) do đó  mục đích kết hôn không thành. Hiện nay con gái tôi cũng có lòng thù hận với tôi và gia đình nhà chồng ( gia đình tôi ban đầu không cho phép tôi lấy vợ tôi và vợ tôi đã có 02 lần xúc phạm gia đình tôi);
  • Về Tài sản: Hiện nay TS bao gồm 01 căn nhà tại Quận 12 (trị giá ~4 tỷ VND, 01 miếng đất tại Củ chi, một sổ TK : 1 tỷ VND cùng một số vật dụng khác);
  • Do mục đích hôn nhân không đạt, tôi muốn ly hôn đơn phương. Mong luật sư tư vấn cho tôi-Lưu ý : Vợ tôi đã xé rất đăng ký kết hôn và không chịu ký giấy ly hôn.

 

Xin chân thành cám ơn.

 

Trả lời:  Chào bạn,

Việc bạn không có giấy đăng ký kết hôn bạn có thể đến UBND xã, Phường, TP nơi trước kia bạn và vợ bạn làm thủ tục đăng ký kết hôn để xin trích lục.

Trường hợp vợ bạn không ký vào đơn ly hôn bạn vẫn có thể đơn phương ly hôn. trình tự thủ tục như sau.

 

Thủ tục đơn phương ly hôn

Căn cứ Điều 164,165 BLTTDS . Khi ông/bà làm thủ tục ly hôn thì các giấy tờ cần thiết để giải quyết về ly hôn có thể có như sau: Đơn xin ly hôn ; Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; Nếu có con chung (giấy khai sinh của con); Giấy tờ chứng minh tài sản riêng/chung của ông/bà (nếu có); Giấy tờ về nhân thân của ông, bà như giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu thường trú. 

A. Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn thì Toà án phải tiến hành hoà giải. Nếu hoà giải đoàn tụ thành mà người yêu cầu xin ly hôn rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án áp dụng điểm 2 Điều 46 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Nếu người xin ly hôn không rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án lập biên bản hoà giải đoàn tụ thành. Sau 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản, nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện Kiểm sát không phản đối thì Toà án ra quyết định công nhận hoà giải đoàn tụ thành. Quyết định công nhận hoà giải đoàn tụ thành có hiệu lực pháp luật ngay và các đương sự không có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.

B. Trong trường hợp hoà giải đoàn tụ không thành thì Toà án lập biên bản hoà giải đoàn tụ không thành, đồng thời tiến hành mở phiên toà xét xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung.

C. Cần chú ý là tuy pháp luật tố tụng chưa quy định, nhưng đối với người có đơn yêu cầu xin ly hôn mà bị Toà án bác đơn xin ly hôn thì sau một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án bác đơn xin ly hôn có hiệu lực pháp luật, người đó mới lại được yêu cầu Toà án giải quyết việc xin ly hôn.

Lưu ý: Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn (Điều 92 – Luật Hôn nhân và Gia đình 2000).

Khi áp dụng quy định tại Điều 92 - Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 cần chú ý một số điểm sau đây:

 - Theo quy định tại khoản 1 Điều 92 thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng vì lýdo nào đó thì Toà án cần giải thích cho họ hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để họ biết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con thì Toà án không buộc bên kia phải cấp dưỡng nuôi con.

- Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và do các bên thoả thuận. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, vào khả năng của mỗi bên mà quyết định mức cấp dưỡng nuôi con cho hợp lý.

- Về phương thức cấp dưỡng do các bên thoả thuận định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì Toà án quyết định phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.

- Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về người trực tiếp nuôi con thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần. Nếu con từ đủ chín tuổi trở lên, thì trước khi quyết định, Toà án phải hỏi ý kiến của người con đó về nguyện vọng được sống trực tiếp với ai.

Về nguyên tắc, con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi con, nếu các bên khôngcó thoả thuận khác. 

Theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể xem xét cho Ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng. Trong trường một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án xem xét giải quyết việc ly hôn. Căn cứ cho ly hôn là: tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

 

Hồ sơ và thủ tục ly hôn đơn phương được quy định như sau:

 

Hồ sơ Ly hôn gồm: 

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực); 

Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực)

Đơn xin ly hôn (Theo mẫu)

Nơi nộp hồ sơ ly hôn: Tòa án nhân dân cấp huyện nơi thường trú của bị đơn.

 

Thời gian giải quyết ly hôn: Trường hợp vợ hoặc chồng Đơn phương xin ly hôn, theo quy định của Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thời gian chuẩn bị xét xử vụ án Ly hôn tối đa là 04 tháng, nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì được gia hạn nhưng không quá 02 tháng. Trong thời hạn 01 tháng kế từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trong trường hợp có lý do chính đáng, thời hạn này là 02 tháng. Trong thực tế, thời gian giải quyết vụ án Ly hôn có thể ngắn hơn hoặc kéo dài hơn thời gian mà luật qui định tùy thuộc vào tính chất của từng vụ án 

 

Vấn đề nuôi con sau Ly hôn: Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con sau khi Ly hôn. Nếu các bên không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.

 

 Về nguyên tắc, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Như vậy, việc quyết định người trực tiếp nuôi con căn cứ vào việc vợ hay chồng đáp ứng được điều kiện để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con.

 Vấn đề về Phân chia tài sản

 Căn cứ Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: Trong trường hợp vợ chồng khi ly hôn thì việc chia tài sản khi ly hôn theo các nguyên tắc sau:

1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

3. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với chúng tôi để được luật sư hướng dẫn chi tiết.

Tư vấn ly hôn: 0946 402 565