Gia đình Hôn nhân gia đình Xin giấy xác nhận, chứng nhận độc thân
baner

Xin giấy xác nhận, chứng nhận độc thân

Email In

Chị tôi lấy chồng năm 1994 và đã có với chồng 1 đứa con nay đã 15 tuổi. Hai vợ chồng đã ly dị năm 2005, đã có giấy ly hôn của tòa án. Nhưng sau đó, chị lại có với chồng cũ chị một đứa con nay đã 1 tuổi rưỡi, khai sinh của cháu có tên cha là chồng cũ của chị. Tuy thế, chị tôi và chồng cũ không sống chung với nhau, chị tôi một mình nuôi 2 đứa con. Chồng chị tôi hiện nay không ai liên lạc được. Nay chị tôi muốn kết hôn với một người khác, nhưng khi xin giấy độc thân ở chính quyền địa phương thì bị từ chối với lý do là đứa con thứ 2 của chị khai sinh tên bố là tên chồng cũ của chị, trong khi chị và chồng chị đã ly hôn.

Tôi muốn hỏi trường hợp này chính quyền địa phương làm có đúng với pháp luật không, và chi tôi phải làm thế nào để có được giấy chứng nhận độc thân.

Trả lời: với những dữ kiện bạn nêu trên .Việc chính quyền địa phương lấy lý do chị bạn có con với chồng cũ sau khi đã ly hôn để không cấp giấy chứng nhận độc thân là SAI .Vì việc có con với ai sau khi ly hôn không ảnh hưởng vì về việc xác nhận độc thân của chị bạn sau khi ly hôn .
Giấy chứng nhận độc thân thật chất là giấy xác nhận tình trạng hôn nhân .Nếu chị bạn đã có giấy ly hôn có hiệu lực thì không có bất cứ lý do gì mà chính quyền địa phương lại không cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho chị bạn nếu chị chưa đăng ký kết hôn với ai khác sau khi ly hôn .
bạn có thể tham khảo quy định tại THÔNG TƯ SỐ 01/2008/TT-BTP HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 158/2005/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH để hiểu rõ hơn quá trình đăng ký kết hôn

 

2. Đăng ký kết hôn 

a) Khi đăng ký kết hôn, mỗi bên nam nữ phải khai vào một Tờ khai đăng ký kết hôn. Trường hợp cả hai bên nam nữ cùng cư trú tại một xã, phường, thị trấn hoặc cùng công tác tại một đơn vị trong lực lượng vũ trang nhân dân, thì hai bên kết hôn chỉ cần khai vào một Tờ khai đăng ký kết hôn. 

b) Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn và xác nhận tình trạng hôn nhân trong Tờ khai đăng ký kết hôn đều có giá trị chứng minh về tình trạng hôn nhân của bên kết hôn; khi đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ chỉ cần nộp một trong hai loại giấy tờ trên. 

c) Nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân phải được ghi rõ: đương sự hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai (Ví dụ: Anh Nguyễn Văn A, hiện đang cư trú tại..., hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai); đối với người đã có vợ/chồng nhưng đã ly hôn hoặc người kia đã chết thì cũng phải ghi rõ điều đó (Ví dụ: Anh Nguyễn Văn A, hiện đang cư trú tại... đã đăng ký kết hôn, nhưng đã ly hôn theo Bản án ly hôn số ... ngày... tháng ... năm.... của Tòa án nhân dân ..., hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai). 

d) Đối với những người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nước ngoài), mà Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở những nơi đó, thì yêu cầu đương sự viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về việc cam đoan. 

đ) Khi xác nhận tình trạng hôn nhân trong Tờ khai đăng ký kết hôn, Uỷ ban nhân dân cấp xã cũng phải ghi vào Sổ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để quản lý. Số/quyển số trong Sổ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được ghi bổ sung sau phần ghi về thời hạn có giá trị của việc xác nhận: Xác nhận này có giá trị trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày cấp. (Số ........../quyển số .......). 

e) Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc Tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận tình trạng hôn nhân trong hồ sơ đăng ký kết hôn của hai bên nam nữ phải là bản chính. Không sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã ghi mục đích sử dụng khác để làm thủ tục đăng ký kết hôn và ngược lại, không sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã ghi mục đích làm thủ tục đăng ký kết hôn để sử dụng vào mục đích khác. 

g) Khi đương sự yêu cầu xác nhận lại tình trạng hôn nhân trong Tờ khai đăng ký kết hôn do xác nhận trước đó đã hết thời hạn sử dụng, thì phải nộp lại Tờ khai đăng ký kết hôn cũ; trong trường hợp đương sự khai đã làm mất Tờ khai đăng ký kết hôn, thì phải có cam kết về việc chưa đăng ký kết hôn; bản cam kết phải lưu trong hồ sơ cấp xác nhận tình trạng hôn nhân. Việc xác nhận lại tình trạng hôn nhân cũng phải được ghi trong Sổ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trong cột Ghi chú của Sổ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (kể cả xác nhận lần đầu và xác nhận lại) phải ghi rõ “Đã xác nhận lại tình trạng hôn nhân ngày ... tháng ... năm ...., lý do xác nhận lại ....”. 

Hướng dẫn này cũng được áp dụng khi giải quyết yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích kết hôn. 

h) Khi một bên hoặc cả hai bên nam, nữ đề nghị rút hồ sơ đăng ký kết hôn, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã trả lại hồ sơ, đồng thời hướng dẫn đương sự nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc Tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận tình trạng hôn nhân cho Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đã cấp xác nhận tình trạng hôn nhân để ghi chú vào Sổ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân về việc chưa đăng ký kết hôn; đối với trường hợp người đăng ký kết hôn là cán bộ, chiến sỹ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thông báo cho Thủ trưởng đơn vị của người đó để biết.



Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với chúng tôi để được hướng dẫn chi tiết

Click:: Liên hệ tư vấn tại Hà Nội , khu vực Miền Bắc

Click:: Liên hệ tư vấn tại TP Hồ Chí Minh, khu vực miền nam

 

Liên hệ luật sư


Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: